 |
| Hàng chục tấn máy móc, thiết bị thi công cầu Pắc Ma đều phải tự hành vào công trường, “bò” hàng tháng mới tới nơi |
Nhà thầu rút hết vì quá khó
Đã 3 năm cầu Pắc Ma khánh thành và đưa vào sử dụng nhưng đối với ông Phạm Văn Khôi - Tổng Giám đốc Công ty CP Đầu tư và Xây dựng giao thông Phương Thành Tranconsin, những gian nan, khó khăn khi xây dựng cây cầu này vẫn còn là những kỷ niệm khó quên.
Năm 2008, gói thầu xây dựng cầu Pắc Ma trên tuyến đường từ Mường Nhé lên Pắc Ma được UBND tỉnh Lai Châu mở thầu. Lúc đó có đến 3 nhà thầu nộp hồ sơ. Tuy nhiên, sau khi xem xét kỹ các yếu tố kỹ thuật và khảo sát địa hình, đường sá vào công trường, cả 3 nhà thầu ấy đều đồng loạt xin rút lui. Phương Thành Tranconsin với kinh nghiệm thi công nhiều công trình giao thông tại vùng cao, hiểm trở, được sự động viên của lãnh đạo và người dân tỉnh Lai Châu đã đứng ra đảm nhận nhiệm vụ thi công dự án. Dù đã lường trước được khó khăn, nhưng khi bắt tay vào thi công, những người thợ cầu mới thấu hiểu hết sự khắc nghiệt của sông Đà nơi vùng cao biên giới.
| Cầu Pắc Ma được khởi công xây dựng từ năm 2009 và hoàn thành năm 2012. Cầu thuộc gói thầu số 8 (Dự án tuyến đường Mường Nhé - Pắc Ma), gồm 4 nhịp, 3 trụ và 2 mố, chiều dài 235m, cao 41m (tính từ bệ trụ), mặt cầu rộng 8m. Cầu được thiết kế bê tông cốt thép, thi công theo công nghệ đúc hẫng cân bằng. Tổng vốn đầu tư của công trình khoảng 100 tỷ đồng. |
Thời điểm năm 2009, nguồn vốn đầu tư đang gặp rất nhiều khó khăn, lãi suất ngân hàng tăng vùn vụt, nhưng với quyết tâm thực hiện dự án, Phương Thành Tranconsin đã làm mọi cách để vay nguồn vốn thương mại, đảm bảo cung ứng đủ vốn cho công trình. Tuy nhiên, khó khăn nhất vẫn là những trắc trở về địa hình và đường sá.
Ông Khôi còn nhớ như in những lần lên công trường chỉ đạo thi công phải ngủ lại giữa rừng vì đường bị sụt trượt, sạt lở. Thậm chí, có lần ông phải nằm hai ngày giữa đoạn đường từ thị trấn Mường Tè vào Pắc Ma. Hôm đó, dù đã biết đường khó đi, ông thúc lái xe chạy một mạch vào thẳng công trường, không nghỉ. Thế nhưng, khi chỉ còn cách công trường chưa đầy 20km thì mưa trút xuống như thác đổ. Hai bên đường cây cối đổ rạp, taluy sạt lở tắc hết lối đi. Ông Khôi yêu cầu tài xế quay xe ngược ra thị trấn, định bụng sẽ nghỉ lại chờ thông đường rồi đi tiếp. Nhưng chỉ đi được chừng 10km thì đường cũng bị tắc, những phiến đất đá từ trên cao trượt xuống ngăn hết đường ra. Nhìn xung quanh không một bóng nhà dân, cả hai đều rờn rợn. Rất may, do đã có nhiều kinh nghiệm đi đường rừng, núi nên ông đã có sự phòng bị sẵn, trên xe tích trữ đủ lương khô và nước uống. Hai ngày ròng rã ẩn mình trong chiếc xe 7 chỗ, nước uống, lương khô phải tằn tiện. Chính vì vậy, cả hai vui mừng khôn xiết khi nghe tiếng máy xúc, máy ủi ngày một rõ hơn tiến đến thông đường, giải vây sau hai ngày giữa rừng sâu heo hút.
Mặc dù vậy, theo ông Khôi: “Chuyện đi lại khó khăn có lẽ còn chưa thấm vào đâu so với anh em thi công trong quá trình đưa máy móc, thiết bị vào công trường. Có lẽ so với hình ảnh kéo pháo, chị gánh, em thồ để mở đường, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ năm nào cũng không khác là mấy”.
Nhích từng mét đưa thiết bị vào công trường
Khi tham gia dự án, dù đã có kinh nghiệm làm nhiều công trình ở khu vực Tây Bắc, nhưng khi đảm nhận vị trí Giám đốc dự án giai đoạn 2, anh Nguyễn Văn Hạnh cũng chưa thể hình dung hết những gian nan, hiểm trở của công trình này. Khi vừa bắt đầu khởi công dự án, do đoạn đường từ Mường Tè vào Pắc Ma khởi động chậm hơn so với dự án cầu nên việc đưa hàng chục tấn thiết bị, máy móc vào công trường gian nan gấp nhiều lần, chẳng khác nào một cuộc hành quân trong thời chiến.
Từ thị trấn Mường Tè vào đến công trường chỉ khoảng 30km nhưng do đường núi hẹp, quanh co, nhiều cầu hẹp, yếu nên máy móc, thiết bị đều phải tự “bò” vào. Có khi mất cả tháng mới tới nơi.
|
"Bất kỳ anh em công nhân nào từng tham gia xây cầu Pắc Ma đều không thể quên những ấn tượng về buổi đầu tiên đến với công trường. Hơn 30km đường vào công trường cầu Pắc Ma toàn đá cheo leo, dốc đứng, hai bên là vực sâu thăm thẳm với dòng sông Đà chảy siết. Cho đến tận bây giờ, những lúc anh em có dịp ngồi lại với nhau, hễ nhắc đến cung đường ấy là ai cũng lè lưỡi, lắc đầu”.
Anh Nguyễn Văn Hạnh
- Giám đốc dự án giai đoạn 2
|
“Cầu tháp, máy xúc, máy ủi, dàn giáo, xe đúc… đều phải tự hành vào công trường. Những loại máy này vốn không đi được nhanh, lại gặp phải đường khó đi nên còn chậm hơn rùa bò. Đã thế, mỗi chiếc xe lại phải có thêm người đi kèm để áp tải, dẫn đường, mang theo nhiên liệu. Hàng đoàn xe như vậy cộng với nhân lực áp tải đi theo nên trông chẳng khác nào một đoàn quân kéo pháo ra chiến trường. Thường cứ phải hơn một tháng thì những máy móc này mới đến được chân công trình” - anh Hạnh nhớ lại.
Cũng theo anh Hạnh, sắt, thép, xi măng và các loại vật liệu xây dựng khác cũng phải san tải, rồi “tăng bo” mỗi khi gặp cầu yếu. Chỗ tập kết xi măng cũng cách chân công trường đến hơn 1km. Vì thế, hàng ngày, anh em cán bộ, công nhân viên cứ ròng rã vác từng bao xi măng, từng cây thép vận chuyển vào công trường thi công. Mỗi ngày, mỗi người cũng chỉ gùi được khoảng 10 bao xi măng và vài chục cây sắt. Ấy thế mà cuối cùng công trình vẫn hoàn thành đúng tiến độ.
Đối với công đoạn thi công cũng vất vả chẳng kém. Dù đã kinh qua nhiều dự án giao thông trải dài trên cả nước, nhưng anh Hạnh chưa bao giờ gặp phải cây cầu có địa chất, thủy văn phức tạp như nơi đây. Hai trụ chính cầu được khoan nhồi giữa lòng sông Đà chảy siết, chủ yếu là đá xanh cứng. Có ngày, cả đội chỉ khoan được vỏn vẹn 20cm. Hơn nữa, sông Đà hung dữ thường xuyên thay đổi dòng chảy cũng ảnh hưởng lớn đến công tác thi công của anh em. Có lần, khi mọi người đang ăn cơm trưa, thấy báo có lũ, tất cả bỏ vội bát đũa chạy xuống bờ sông để cứu máy móc thiết bị. Chỉ trong chưa đầy hai giờ đồng hồ, mực nước sông Đà đã dâng cao đến 5m. Sau trận lũ ấy, công trường luôn phải cắt cử người túc trực cả ngày lẫn đêm để “gác” lũ.
Chị em làm thơ tặng “lính” công trường
Xác định đây là công trình đặc biệt phức tạp nên Phương Thành Tranconsin đã điều khoảng 70 kỹ sư, công nhân thiện chiến nhất tới công trường. Hầu hết anh em đều còn rất trẻ, chưa lập gia đình. Là chàng trai trẻ mới ra trường nhưng anh Vũ Đức Nhận đã được Công ty tín nhiệm đề cử làm Giám đốc dự án giai đoạn 1. Sức trẻ cộng với lòng nhiệt huyết, Nguyễn Đức Nhận đến với cầu Pắc Ma cùng một tâm niệm “không có việc gì khó…”.
Nhớ lại những ngày gian khó ấy, chàng trai năm nay mới xấp xỉ tuổi “tam thập nhi lập” vẫn không quên những kỷ niệm vui buồn của một thời trai trẻ: “Công trường ở xa trung tâm thị trấn, đường sá khó khăn nên việc cung cấp thực phẩm cho công nhân nan giải vô cùng. Mặc dù, công ty đã trang bị một chiếc xe bán tải chuyên để vận chuyển, mua bán thực phẩm phục vụ anh em nhưng nhiều thời điểm do đường bị sụt trượt, không ra thị trấn được nên hàng tháng trời bữa ăn của mọi người không có thứ gì khác ngoài những thực phẩm dễ bảo quản như cá khô với trứng gà.
Đồng bào các dân tộc sống rải rác quanh khu vực công trường cảm nhận được sự khó khăn, vất vả của anh em công nhân nên thường xuyên đến động viên, chia sẻ cả tinh thần và vật chất. Cứ săn bắt, thu lượm được con gì hay trồng được luống rau xanh nào là bà con lại mang đến biếu anh em công trường. Sự giao lưu, gần gũi cũng dần trở nên đậm đà hơn. Thậm chí trong những lúc khó khăn, bà con sẵn sàng cùng gánh vác công việc”.
Sự gần gũi, đùm bọc của những đồng bào dân tộc Thái, Si La ở những bản làng biên giới giúp những cán bộ, công nhân thi công cầu Pắc Ma vơi bớt cực nhọc. Thậm chí, khi hoàn thành cầu Pắc Ma, trước khi chia tay công nhân công trường, những cô gái dân tộc Thái đã làm rất nhiều thơ để tặng các chàng trai là kỹ sư, công nhân xây cầu. Trong đó, câu thơ có lẽ được nhiều người nhớ nhất có đoạn: “Cảm ơn các chú công trường; Dày công xây đắp cây cầu Pắc Ma;...”.
Đức Thắng - Tiến Mạnh
.
.