|
|
|
|
| ..:: TIN TỨC
::.. |
|
Biển Đông: Cái "kho" của tranh chấp, khác biệt
29 Tháng Năm 2014 :: 1:54 CH :: 6541 Views ::
0 Comments :: Tin Tức
|
|
| Do quá trình lịch sử và đặc điểm địa lý, cùng với các yêu sách về biển, về chủ quyền đảo của các quốc gia xung quanh Biển Đông, hiện đang tồn tại những khác biệt, dẫn đến tranh chấp về quyền tài phán biển ở Biển Đông, bao gồm 3 lĩnh vực chính: tranh chấp phân định đối với các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; tranh chấp chủ quyền các đảo; tranh chấp giữa tự do hàng hải và việc mở rộng quyền tài phán đối với vùng lãnh hải, eo biển quốc tế, vùng nước quần đảo, vùng đặc quyền kinh tế. |
Trước hết, về tranh chấp vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa. Dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước về Luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc và chứng cớ về lịch sử, địa lý, các nước ven Biển Đông đều có những tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình tại một khu vực nhất định ở Biển Đông. Tuy mức độ, phạm vi tuyên bố khác nhau, nhưng những tuyên bố này có sự chồng chéo, chồng lấn về vùng biển, dẫn đến tình trạng tranh chấp phức tạp.
Trong các tuyên bố chủ quyền đó, đáng chú ý nhất là yêu sách “Đường lưỡi bò” (Đường 9 khúc, Đường chữ U) của Trung Quốc, chiếm khoảng 80% diện tích Biển Đông. Chiếu theo các điều khoản của Công ước về Luật biển năm 1982 của LHQ thì “Đường lưỡi bò” của TQ đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của tất cả các nước còn lại; trong đó có 3 đường xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam là: (1) Đường cách đông Đà Nẵng khoảng 67 hải lý, cách đông đường cơ sở của Việt Nam khoảng 40 hải lý, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam khoảng 160 hải lý; (2) Đường cách đông Cam Ranh khoảng 49 hải lý, cách đông đường cơ sở của Việt Nam khoảng 43 hải lý, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam khoảng 157 hải lý; (3) Đường cách đông nam đảo Côn Đảo khoảng 100 hải lý, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam khoảng 100 hải lý.
Do Trung Quốc có tham vọng “Đường lưỡi bò” nên tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông chủ yếu là tranh chấp vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa giữa Trung Quốc với Việt Nam, Malaysia, Philippines, Brunei, Indonesia, và giữa các nước trên với nhau.
Thứ hai, tranh chấp các đảo ở khu vực Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó Hoàng Sa là vấn đề song phương giữa Việt Nam với Trung Quốc, Trường Sa là vấn đề giữa 4 nước, 1 bên.
Khu vực Hoàng Sa: Hiện Trung Quốc đang chiếm đóng toàn bộ các đảo ở khu vực Hoàng Sa, trên cơ sở sử dụng vũ lực: Năm 1956, Trung Quốc chiếm cụm Đông Bắc. Từ ngày 15 -20/1/1974, Trung Quốc sử dụng 11 tàu chiến và tàu phục vụ, 10 tàu cá có vũ trang và khoảng 600 quân đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Do vậy, khu vực Hoàng Sa đang tồn tại sự tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Vị trí Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD-981 chính là nằm trong khu vực này.
Khu vực Trường Sa: Hiện có 4 nước và 1 bên chiếm đóng trên các đảo ở Trường Sa gồm: Trung Quốc chiếm đóng ở 7 đảo: Chữ Thập (31/1/1988), Châu Viên (18/2/1988), Xu Bi (23/3/1988), Ga Ven (18/2/1988), Gạc Ma (16/3/1988), Huy Gơ (28/2/1988), Vành Khăn (1/1995). Toàn bộ 7 đảo mà Trung Quốc chiếm đóng ở Trường Sa là các bãi đá san hô nổi lên một phần hoặc phần nhiều khi thuỷ triều xuống thấp, khi thuỷ triều lớn nhất bị ngập nước.
Việt Nam quản lý 21 đảo ở 8 nhóm Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên và 6 nhóm bãi ngầm Ba Kè, Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên và Tư Chính (ở khu vực DK-I). 21 đảo là: Trường Sa, Trường Sa Đông, Đá Lát, Đá Tây, Đá Đông, Đá Nam, Đá Thị, Đá Lớn, Thuyền Chài, An Bang, Tốc Tan, Sơn Ca, Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Tiên Nữ, Núi Le, Cô Lin, Len Đao, Phan Vinh.
Philippines chiếm đóng ở 9 đảo: Song Tử Đông, Thị Tứ, Đảo Dừa, Loại Ta, Công Đo, Bình Nguyên, Vĩnh Viễn, Panata và Cỏ Mây. Trong đó, trước năm 1975, Philippines chiếm 5 đảo, số còn lại sau năm 1975.
Malaysia chiếm đóng ở 7 đảo: Kỳ Vân, Kiệu Ngựa, Chim Én, Én Ca, Lusia, Charlos (Sác Lốt) và Thám Hiểm. Toàn bộ 7 đảo trên, Malaysia đều chiếm đóng sau năm 1975.
Đài Loan chiếm đảo Ba Bình (họ gọi là Thái Bình) và bãi cạn Bàn Than.
Sự chiếm đóng này tạo thế đan xen và tạo ra nhiều khu vực biển chồng lấn. Đặc biệt, các đảo do Trung Quốc chiếm giữ là do sử dụng vũ lực để đánh chiếm hoặc lấn chiếm của Việt Nam và Philippines, nên ở đây không chỉ tranh chấp vùng biển chồng lấn mà còn tranh chấp cả một số đảo, rất phức tạp, khó giải quyết.
Thứ ba, vấn đề hàng hải, Công ước về Luật biển năm 1982 thiết lập ba quy chế, đó là “quyền đi qua vô hại” vùng lãnh hải, “quyền đi qua” eo biển quốc tế, và “quyền qua lại” ở quần đảo. Các quyền hàng hải khác nhau sẽ phụ thuộc vào các quy chế khác nhau.
Về quyền hàng hải ở vùng đặc quyền kinh tế, Công ước về Luật biển năm 1982 quy định tự do hàng hải áp dụng cho vùng đặc quyền kinh tế, nhưng cũng theo Công ước, các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên ở vùng đặc quyền kinh tế, và vùng này thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển. Vì Công ước về Luật biển năm 1982 chỉ đưa ra các luật và nguyên tắc chung và còn chưa rõ ràng trong nhiều vấn đề, nên sự khác biệt trong cách giải thích và thực thi Công ước là khá phổ biến trên thế giới, kể cả cố ý. Trung Quốc trong quá trình lai dắt giàn khoan Hải Dương-981, họ đã vận dụng “quy định tự do hàng hải áp dụng cho vùng đặc quyền kinh tế”, do vậy Việt Nam không thể phản đối họ “hành quân”. Nhưng khi họ hạ đặt giàn khoan thì đã vi phạm quyền tài phán của Việt Nam.
Tự do hàng hải và an toàn hàng hải ở Biển Đông không chỉ là mối quan tâm của các quốc gia Đông Nam Á ven biển, mà còn liên quan đến lợi ích của các cường quốc ngoài khu vực. Mỹ, Nhật Bản quan tâm nhiều tới quyền ra vào tự do và an toàn thông qua các tuyến đường biển và hành lang trên không ở đó. Quyền qua lại tự do các tuyến đường biển có tầm quan trọng sống còn đối với Mỹ (xét từ nhu cầu qua lại giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương của các tàu chiến Mỹ), đối với Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và các nền kinh tế phát triển khác như Singapore… (xét từ nhu cầu vận chuyển thương mại, hàng hóa và dầu mỏ).
Nguyễn Đăng Song |
|
|
|
|
|
| Comments |
Hiện tại không có lời bình nào!
|
|
Gửi lời bình
Huỷ Bỏ
|
|
|
 | CÔNG TY CP VẬN TẢI ĐƯỜNG VIỆT Đ/C : Toà C vinaconex, Nguyễn Xiển, Thanh Xuân, Hà Nội. ĐT: 08 33 33 88 99 E mail: vantaiduongviet123@gmail.com | | Chi nhánh Hải Phòng Đ/C: 208 Đà Nẵng- Ngô Quyến Hải Phòng | Chi nhánh HCM: 304/9 khu phố 1-P Thạnh Xuân- Q 12 | | Chi nhánh Đà Nẵng: 196 Quang Trung- Hải Châu- TP Đà Nẵng | Chi nhánh Lào Cai: phường Bắc lệnh- Thành phố Lào Cai |  | | Chính sách bảo mật | Hình thức thanh toán | |
|
|